Tìm hiểu về chứng viêm đại tràng mạn tính

Tìm hiểu về chứng viêm đại tràng mạn tính

Chứng viêm đại tràng mạn tính là bệnh thường gặp và gây những tổn thương nghiêm trọng tới người bệnh. Chứng viêm đại tràng mạn tính để lại nhiều đau đớn và khó chịu cho hầu hết những bệnh nhân bị nhiễm. Vì thế việc đề phòng, cảnh giác với chứng bệnh này là một việc nên làm thường xuyên.

25020b833caa04.img Tìm hiểu về chứng viêm đại tràng mạn tính

1. Nguyên nhân viêm đại tràng mạn

Nguyên nhân chủ yếu gây ra chứng viêm đại tràng mạn là với bệnh nhân sau khi nhiễm khuẩn đường ruột cấp, thương hàn, lỵ trực khuẩn, lỵ amip và các nhiễm khuẩn khác gây tổn thương rồi để lại di chứng “sẹo” ở niêm mạc đại tràng; dị ứng; tự miễn dịch sau viêm đại tràng, loét không đặc hiệu, vì một lý do nào đó chưa rõ viêm niêm mạc đại tràng trở thành kháng nguyên nên cơ thể tạo ra kháng thể chống lại chính niêm mạc đại tràng.

Sau khi bị dính phải một trong các nguyên nhân trên thì sức đề kháng của niêm mạc đại tràng giảm xuống rõ rệt và đó là lý do toàn thân hoặc tại chỗ dẫn tới nuôi dưỡng niêm mạc đại tràng bị kém đi đôi với rối loạn vận động, tiết dịch, sức “chống đỡ bệnh” của niêm mạc giảm nên viêm loét xảy ra dẫn tới hình thành bệnh viêm đại tràng mạn tính.

Bệnh viêm đại tràng mạn là sự tổng hợp của nhiều loại bệnh, sự phối hợp của nhiều cơ chế, do vậy chỉ điều trị ổn định chứ chưa điều trị khỏi được hoàn toàn. Tổn thương viêm: thường thấy hình ảnh niêm mạc sung huyết, các mạch máu cương tụ thành từng đám, hoặc niêm mạc đại tràng bạc màu, mất độ láng bóng. Tăng tiết nhầy ở vùng niêm mạc bị tổn thương viêm, có thể thấy hình ảnh những chấm chảy máu rải rác ở niêm mạc đại tràng. Tổn thương loét: bệnh viêm đại tràng mạn thấy hình ảnh viêm thường kèm theo với các ổ loét có thể chỉ là vết xước hoặc trợt niêm mạc, có ổ loét thực sự sâu, bờ đều mềm mại, ở đáy có nhầy, mủ, máu…

2. Dấu hiệu của viêm đại tràng mạn tính

Mệt mỏi, chán ăn là những dấu hiệu đầu tiên của viêm đại tràng mạn tính. Người bệnh mệt mỏi, ăn ngủ kém, chán ăn, đầy bụng, giảm trí nhớ, hay cáu gắt, có thể có sốt. Nếu bị bệnh nặng thì cơ thể gầy sút hốc hác.

Những cơn đau bụng xuất hiện và thường là đau ở vùng hố chậu hai bên hoặc vùng hạ sườn phải và trái, vùng đại tràng góc gan, góc lách, đau lan dọc theo khung đại tràng, thường đau quặn từng cơn, có khi đau âm ỉ, khi đau thường mót đi ngoài, đi ngoài được thì giảm đau, cơn đau dễ tái phát.

Viêm đại tràng mạn tính còn biểu hiện qua những rối loạn đại tiện, thường là bệnh nhân đi tiêu lỏng nhiều lần một ngày, phân có nhầy, máu hoặc táo bón, sau bãi phân có nhầy, máu. Có khi bệnh nhân bị táo bón và tiêu chảy xen kẽ nhau nếu bị viêm đại tràng khu vực. Mót rặn, sau đó đi ngoài thấy đau trong hậu môn. Khám ấn hố chậu có thể có tiếng óc ách, trướng hơi, ấn dọc khung đại tràng đau. Có thể sờ thấy “thừng xích ma” như một ống chắc, ít di động.

3. Phân biệt với các bệnh khác

Chứng viêm đại tràng mạn tính có nhiều biểu hiện giống với các bệnh như: rối loạn chức năng đại tràng có đau bụng, phân táo, lỏng, không có máu, xét nghiệm albumin hoà tan âm tính, soi và sinh thiết đại tràng không thấy tổn thương viêm, loét. Vì thế cần phân biệt rõ ràng chứng viêm đại tràng mạn tính với các bệnh khác.

Phân biệt với bệnh Polýp đại tràng. Bệnh Polyp đại tràng gặp ở nam nhiều hơn ở nữ, trên 50 tuổi, thường không có triệu chứng, có thể tình cờ xét nghiệm phân thấy máu vi thể hoặc đại tiện ra máu, soi đại tràng thấy polýp.

Phân biệt với bệnh Ung thư đại tràng, trực tràng. Bệnh này gặp nhiều ở nam hơn ở nữ, tuổi ngoài 40, các bệnh đại tràng dễ dẫn tới ung thư là polýp loại lan toả, các polýp giả, viêm đại tràng xuất huyết, sau lỵ amip, vị trí ung thư thường gặp ở trực tràng, đại tràng xích ma, triệu chứng phụ thuộc vào khối u, đau bụng không khu trú rõ rệt, chán ăn, buồn nôn, xen kẽ táo bón hoặc đi lỏng, có máu trong phân.

Phân biệt với bệnh Lao hồi manh tràng. Lao hồi manh tràng: có hội chứng nhiễm lao, rối loạn cơ năng ruột, đại tiện lỏng 2 – 3 lần/ngày, phân sền sệt, tình trạng đại tiện lỏng kéo dài, có khi đỡ có khi xen kẽ đại tiện táo. Đau bụng, vị trí đau không cố định, khi đau quanh rốn, khi đau hố chậu phải, biếng ăn, sôi bụng, bệnh nhân có sốt về chiều, gầy sút, đồng thời có dấu hiệu rối loạn tiêu hoá kéo dài.

4. Điều trị và phòng bệnh

Một khi đã mắc phải chứng viêm đại tràng mạn tính, bạn cần điều trị theo đúng chỉ dẫn của Bác Sĩ và thêm nữa, bạn cũng cần có một chế độ ăn phù hợp để điều trị bệnh. Chế độ ăn phù hợp cho người viêm đại tràng mạn cần là ăn các chất dễ tiêu giàu năng lượng, giảm các chất kích thích, không ăn thức ăn ôi thiu, các chất có nhiều xơ.

Thời gian làm việc và nghỉ ngơi hợp lý để tránh việc tái phát bệnh. Nếu nhiễm khuẩn cần cho kháng sinh… Nếu viêm đại tràng do bệnh “tự miễn” thì dùng liệu pháp corticoid. Điều trị triệu chứng: chống tiêu chảy , chống táo bón, giảm đau chống co thắt, thuốc an thần, tăng sức bền cho niêm mạc: vitamin B1, vitamin C, xoa bóp hằng ngày trước khi ngủ hoặc sáng ngủ dậy nên xoa nắn dọc khung đại tràng, từ hố chậu phải sang trái, động tác nhẹ nhàng vừa xoa vừa day nhẹ.

Phòng bệnh: Để phòng bệnh hiệu quả thì không còn cách nào khác là bạn cần điều trị triệt để các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột cấp, thương hàn, lỵ trực khuẩn, lỵ amip và các nhiễm khuẩn khác. Thực hiện ăn chín uống sôi, không ăn gỏi tôm cá, thịt tái, không ăn rau sống, mắm tôm, mắm tép sống…

ThS. Bùi Hữu Thời – SKDS

4. Điều trị và phòng bệnh 1

Ý kiến của bạn