Gánh nặng kép khi bị viêm loét đại tràng chảy máu

Gánh nặng kép khi bị viêm loét đại tràng chảy máu

Tại Việt Nam trước đây bệnh viêm loét đại tràng chảy máu rất ít gặp nhưng trong 10 năm gần đây bệnh xuất hiện ngày càng nhiều. Bệnh thường không được chẩn đoán và điều trị kịp thời cũng như không được điều trị duy trì một cách có hệ thống. Người bệnh thường vào viện ở giai đoạn đã nặng và suy kiệt làm tăng chi phí điều trị cũng như biến chứng.

Bệnh có thể làm cơ thể suy kiệt

Tùy theo mức độ tổn thương mà bệnh có biểu hiện khác nhau. Trong trường hợp điển hình bệnh nhân tiêu chảy nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nhày máu, nếu bệnh nặng có khi chỉ toàn nhày máu mà không có phân. Đau bụng là triệu trứng hay gặp, đau bụng làm bệnh nhân phải đi đại tiện ngay. Bệnh nhân có triệu chứng mót rặn khi đại tiện. Giai đoạn đầu bị bệnh người dân thường cho mình bị bệnh lỵ và tự điều trị nhưng không có kết quả hoặc có giảm bớt triệu chứng nhưng sau bệnh ngày càng tăng dần.

Bệnh nhân có thể sốt, thiếu máu biểu hiện bằng: hoa mắt chóng mặt nhất là khi ngồi xuống và đứng lên, có thể có phù chân do giảm protein máu khi mắc bệnh lâu ngày. Trong thể nặng có thể có biểu hiện mất nước: khát nước, môi khô, người hốc hác, thậm chí có triệu chứng sốc như: mạch nhanh, huyết áp tụt, đau bụng dữ dội do viêm đại tràng nhiễm độc. Ngoài ra có thể có các triệu chứng như sưng đau các khớp, đau vùng thắt lưng và cùng chậu do viêm khớp cùng chậu

loet dai trang chay mau Gánh nặng kép khi bị viêm loét đại tràng chảy máu

Loét đại tràng chảy máu.

Biến chứng của bệnh

Các biến chứng thường thấy là người bệnh bị suy kiệt, thiếu máu, sốc do nhiễm độc, có thể thủng đại tràng trong trường hợp nặng. Viêm loét đại tràng chảy máu lâu ngày làm tăng tỉ lệ ung thư đại tràng: 2,5% người bệnh bị ung thư đại tràng sau 10 năm, 7,6% sau 30 năm và 10,8% sau 50 năm.

Nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng

Viêm loét đại tràng chảy máu là một bệnh viêm mạn tính tại đại tràng. Tổn thương viêm và loét tại niêm mạc đại tràng gây đại tiện phân nhày máu và đau bụng. Bệnh hay gặp ở Mỹ, Anh, các nước bắc Âu, đặc biệt là người có nguồn gốc từ Do Thái. Tại Mỹ có khoảng 300.000 – 3 triệu người mắc bệnh. Bệnh viêm loét đại tràng chảy máu ít gặp hơn ở các nước đông Âu và châu Á, rất hiếm gặp ở người da đen. Tuy nhiên gần đây người ta thấy bệnh tăng đáng kể ở châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc cũng như các nước đang phát triển mà nguyên nhân không rõ. Tỉ lệ mắc bệnh ở nam và nữ tương đương nhau. Bệnh thường khởi phát ở người bắt đầu trưởng thành tuy nhiên cũng có thể gặp ở trẻ em hoặc người ở độ tuổi 50-60.

Đại tràng là đoạn cuối của đường tiêu hóa, là nơi hình thành và chứa đựng phân trước khi bài xuất ra ngoài. Đại tràng bao gồm: manh tràng là đoạn nối với đoạn cuối ruột non, tiếp đến là đại tràng lên (đại tràng phải), đại tràng góc gan, đại tràng ngang, đại tràng góc lách, đại tràng xuống (đại tràng trái), đại tràng sigma, trực tràng và cuối cùng là hậu môn.

Nguyên nhân của bệnh tới nay người ta cũng chưa rõ, nhưng bệnh có liên quan tới quá trình đáp ứng miễn dịch. Bệnh viêm loét đại tràng chảy máu được xếp cùng với bệnh Crohn gọi chung là nhóm bệnh viêm ruột (Inflammatory Bowel Disease- IBD). Bệnh lúc đầu chỉ khu trú tại trực tràng sau lan dần, tổn thương có thể toàn bộ đại tràng đôi khi có thể lan cả sang một phần của đoạn cuối ruột non.

ton thuong loet dai trang Gánh nặng kép khi bị viêm loét đại tràng chảy máu

Tổn thương loét đại tràng.

Các biện pháp điều trị và phòng bệnh.

Cho tới nay chưa có thuốc điều trị khỏi bệnh hoàn toàn mà việc điều trị chỉ giúp lui bệnh.

Các thuốc điều trị bao gồm:

Thuốc chống viêm tại chỗ.

Thuốc hay dùng có chứa 5-ASA đơn độc như: pentasa, asacol, dipentum, rowasa… Thuốc có tác dụng điều trị duy trì ở giai đoạn lui bệnh. Viên đặt hậu môn dùng khi tổn thương chỉ có ở trực tràng. Dạng thụt như rowasa áp dụng đối với tổn thương tại trực tràng và đại tràng sigma.

Các thuốc ức chế miễn dịch có tác dụng điều trị trong trường hợp nặng mà không đáp ứng với corticosteroids.Infliximab (Remicade) và các thuốc cùng nhóm khác là một kháng thể đơn dòng có tác dụng làm bất hoạt yếu tố hoại tử u dùng trong điều trị thể vừa và nặng giúp cho một số bệnh nhân nặng tránh được khả năng phẫu thuật đại tràng.

Thuốc corticosteroids chỉ dùng điều trị tấn công, ở thể trung bình và thể nặng mà không đáp ứng với thuốc có 5-ASA. Thuốc có thể dùng theo đường uống hoặc đường tiêm trong trường hợp bệnh nặng.

Phẫu thuật cắt bỏ đại tràng là biện pháp duy nhất để điều trị khỏi bệnh hoàn toàn, thường được áp dụng trong trường hợp nặng gây nhiễm độc, nguy cơ thủng đại tràng hoặc khi bệnh không đáp ứng khi điều trị bằng thuốc.

Tuy nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng nhưng thực hiện các chế độ dinh dưỡng tốt cho hệ tiêu hóa, tránh stress, không dùng các chất kích thích, uống đủ nước và khám sức khỏe định kỳ sẽ là những biện pháp giảm nguy cơ mắc bệnh. Khi có triệu chứng cần đi khám bệnh sớm và điều trị kịp thời khi tổn thương chưa lan rộng và dùng thuốc để điều trị duy trì tránh tái phát.

Theo Sức khỏe và đời sống

Thuốc chống viêm tại chỗ. 1
Thuốc chống viêm tại chỗ. 2
Thuốc chống viêm tại chỗ. 3

Ý kiến của bạn